ĐH  2008.01 | Có Chúa Bên Con

 

Trang chính Bao DH 2008 2008-01
.

Ông Từ

Tuyết Vân

 
 

Mặt trời đỏ au, tṛn ủng như một trái banh lửa từ từ rơi xuống, lăn khỏi ngọn đồi xám ngắt đằng trước một khu điều dưỡng tồi tàn, xập xệ. Rồi những giọt nắng cuối cùng cũng tắt lịm hẳn đi, để lại sau lưng một màu tím ảm đạm. Trời bắt đầu chuyển lạnh và gió chiều se se thổi, lay động những cành cây khô khẳng khiu, đứng run trong nỗi cô đơn, tuyệt vọng. Ông Từ ngồi đó, lặng yên như một bức tượng trên chiếc xe lăn cũ kỹ, tại một căn pḥng nhỏ bé nằm cuối khu viện dưỡng lăo, mắt ngắm nh́n cảnh mặt trời lặn với một nỗi xót xa, trống vắng.

Đây đó nhà nhà đă bắt đầu lên đèn. Đường phố dường như tối hẳn đi. Lâu lâu lại có một vài chiếc xe của ai đó lao vụt qua, như thể sợ bị trễ bữa cơm chiều với gia đ́nh. Cảnh tượng này ông Từ đă ngắm nh́n từ nhiều năm qua, nhưng tự nhiên hôm nay ông lại thấy nó buồn tẻ lạ thường. Trước kia ông cũng có nhà để về, có gia đ́nh để ăn cơm chung đấy chứ. Nhưng hết thảy mọi thứ đều đă theo cái ánh hoàng hôn mà ra đi, để lại cho ông một nỗi niềm đau thương chua xót.

Ông Từ trước năm 75 là một sỹ quan quân đội hào hùng. Ông kiêu hănh lấy được một phụ nữ xinh đẹp. Họ ăn ở với nhau được hai mặt con. Nhưng rồi miền nam Việt Nam rơi vào tay Cộng Sản, cuộc sống dân chúng hết thảy đều lâm vào cảnh lầm than. Gia đ́nh ông theo vận nước nổi trôi mà dạt đến bến bờ tự do. Những ngày tháng đầu tiên sống trên đất Mỹ, ông Từ đă cật lực cày hai ba jobs để cho vợ con ông được sống xung túc. Nhưng sức người có hạn. Đến một ngày kia, ông Từ đă quỵ ngă v́ bị stroke. Bác sĩ cho biết rằng ông lo lắng và làm việc quá độ nên bị nghẹt mạch máu năo. Ông Từ sẽ bị bán thân bất toại và ngồi xe lăn suốt đời.

Sau khi nghe tin xét đánh, ông Từ đă nhiều lần tự vẫn, nhưng không thành công. Người vợ yêu quí bên cạnh ông bao nhiêu năm qua, xưa sống trong nhung lụa đă quen, nay đâm ra hoang mang lo sợ trước t́nh cảnh mới. Trong cơn bí lối cùng quẫn, bà đă bỏ ông và các con ra đi, chung sống với một người đàn ông mà trước kia là lính dưới quyền chỉ huy của ông mà thôi. Ông Từ ḷng đau như cắt. Mỗi lần nghĩ đến vợ và thuộc hạ, ông đều giận giữ, chửi đổng:

- Đồ phản bội! Toàn là một lũ chó má.

Rồi nh́n sang các con, ông Từ tưởng rằng sẽ t́m được sự an ủi. Nào ngờ hai đứa con của ông cũng bỏ ông đi luôn, sau khi đem ông vào viện dưỡng lăo này. Đứa lớn phần v́ hận mẹ, phần v́ giận ông không lo được cho nó đến nơi đến chốn, đă bỏ đi tiểu bang khác lập nghiệp. Bao nhiêu năm trời bặt vô âm tín. Nó chẳng thư từ, hay về thăm cha lấy một lần. Cuối cùng th́ ông được tin cảnh sát cho biết là con ông v́ muốn làm giàu nhanh, đă tham gia vào một nhóm buôn bán ma túy, bị bắt và bị kết án tù chung thân. Ở trong tù, đứa con trai lớn vẫn không muốn liên lạc ǵ với cha mẹ nó cả.

C̣n đứa con út th́ ở lại chung thành phố với ông v́ cậu chưa đủ 18 tuổi. Nhưng có mà cũng như không. Chính phủ đem cậu vào Foster Care nuôi dưỡng. Cậu cũng giống hệt như người anh cậu vậy, chẳng bao giờ đến thăm cha lấy một lần. Nhưng rồi chính phủ cũng không giữ được cậu lâu. Ngay sau khi vừa đủ tuổi để rời khỏi Foster House, cậu đă nhanh chóng tham gia vào một nhóm băng đảng choai choai. Rồi liền ngay sau đó cậu bị bắn chết trong một vụ đánh lộn dành gái tại một quán cafe. Ngày người ta đưa tin con út ông mất, ông Từ cũng chết lặng tim, được đem vào nhà thương cấp cứu.

Sau khi xuất viện, cơi ḷng ông trở nên băng giá. Từ đó cuộc đời ông Từ là những chuỗi ngày dài buồn lê thê, tăm tối như một chốn tha ma. Ông khép kín cửa ḷng và không muốn tiếp xúc với ai. Mỗi ngày ông chỉ thích ngồi một ḿnh ngắm cảnh mặt trời lặn, như ngắm nh́n chính cuộc đời của ông vậy. Mỗi khi có người từ các hội đoàn ở nhà thờ đến thăm, ông Từ đều xua tay đuổi đi:

- Người mong th́ lại không đến. C̣n người không mong th́ đến để làm ǵ? Rách việc.

Sống trong bóng tối, khô cằn đă lâu, ông mất dần đi cái cảm giác yêu và được yêu. Lần lần rồi th́ ông Từ cũng bỏ dự lễ và giữ các điều phụng vụ. Mỗi khi có người đem Ḿnh Thánh Chúa vào cho bịnh nhân, ông đều từ chối nhận lănh, và đuổi họ đi. Mối liên hệ giữa ông và Thiên Chúa ngày càng xa cách. Đâu đâu ông cũng chỉ thấy một màu xám thê lương, ảm đạm của sự chết....

Mải mê ch́m đắm trong suy tư, ông Từ không biết là đă có người đứng sau lưng ông tự năy giờ. Cô gái chờ đợi một lúc, thấy ông Từ không để ư, cô đành phải tiếng để phá tan đi cái bầu không khí yên tĩnh, và quá ngột ngạt của căn pḥng:

- It’s time for dinner.

Ông Từ giựt ḿnh, nh́n quanh và nhận ra đó là tiếng của cô y tá mới vào làm việc ở đây được vài ngày. V́ cô là người mới đến, nên bị mọi người đưa vào phục vụ cho ông Từ, một bịnh nhân khó tính nhất ở đây.

Cô vui vẻ tiến lại gần ông, đẩy cho chiếc xe lăn về phía cửa pḥng. Rồi tiện tay, cô bật công tắc điện cho đèn sáng lên mà không biết là ông Từ vốn không thích ánh sáng. Ánh đèn tỏa lan, tràn ngập khắp căn pḥng, làm ông chói mắt. Ông Từ bực dọc, tính gắt ầm lên. Nhưng rồi lại thấy hôm nay trong người không được khỏe, không c̣n hơi sức đâu mà la rày ai nữa, ông đành ngồi thụ động trên xe, để mặc cho cô y tá đẩy nhanh về phía pḥng ăn. Vừa đi, cô vừa nhắc cho ông nhớ là hôm nay sẽ có một nhóm người Việt Nam, thuộc các hội đoàn trong giáo xứ sẽ đến hát giúp vui sau bữa cơm chiều mừng lễ Phục Sinh và sẽ có thừa tác viên Thánh Thể cho bịnh nhân rước lễ.

Hôm đó ông Từ ăn uống vội vă, rồi tự tay lăn chiếc xe về pḥng mà không đợi ai giúp. Ông bỏ đi như thể trốn tránh một cái ǵ đó. Về được đến pḥng, ông thở phào nhẹ nhơm v́ tưởng là có thể được yên thân trong cái thế giới riêng vỏ ốc của ḿnh. Nào ngờ tiếng đàn hát vang lên văng vẳng, vọng lại từ phía pḥng ăn:

“Nào ta hăy mừng vui!

Chúa đă sống lại thật rồi.

Alleluia a.. a ...”

Ông Từ tự dưng nổi cáu, lẩm bẩm một ḿnh:

- Mừng với lại chả vui. Đúng là một lũ vô công rỗi nghề. Các ngươi th́ biết cái quái ǵ về đau khổ mà bảo người khác mừng với lại chả vui?

Ông Từ bực dọc lăn xe về mé giường, định bụng là sẽ lên giường ngủ sớm mà không cần gọi đến cô y tá giúp. Đang loay hoay với chiếc xe bị kẹt lại ở cuối giường th́ bỗng mắt ông chạm phải một đôi mắt to đen lay láy. Ông giật ḿnh nh́n lên. Th́ ra đó là đôi mắt của một cậu bé con độ chừng bốn hay năm tuổi. Người nó trông yếu đuối, xanh xao lắm, nhưng có đôi mắt th́ lại rất linh động và dường như biết nói. Cậu ta cứ nh́n ông đăm đăm làm cho ông khó chịu. Nếu như là mọi lần th́ có lẽ ông Từ đă gắt ầm lên. Nhưng nay v́ người khách lạ lại là một cậu bé tí hon yếu đuối, nên ông Từ lúng túng chẳng biết phải làm sao. Đang lúc phân vân không biết có nên đuổi khách như mọi lần chăng, th́ cậu bé tiến lại gần ông. Theo phản ứng tự nhiên, ông Từ ngả người ra đằng sau. Nhưng cậu bé vẫn bước tới và đặt vào tay ông một quả bong bóng màu xanh. Vừa lúc ấy, có tiếng một phụ nữ gọi con ở bên ngoài:

- Việt, con đâu rồi?

Cậu bé giựt ḿnh, vội ù té chạy, bỏ lại ông Từ trong căn pḥng vắng, vẫn c̣n ngồi ngơ ngác nh́n chiếc bong bóng màu xanh mà chưa hiểu ǵ.

Sau bận đó trở đi, cứ mỗi tuần vào Chủ nhật, lúc th́ buổi sáng, khi th́ buổi chiều, cậu bé lại đến thăm ông. Nghe người ta kể lại th́ cậu bé đó là con của một phụ nữ trẻ làm thừa tác viên Thánh Thể trong giáo xứ. Cậu bé bị bịnh tim ngay từ khi lọt ḷng mẹ. Bố cậu v́ có vợ bé nên đă bỏ mẹ con cậu khi cậu vừa tṛn 2 tháng tuổi. Ông ta khai không nghề nghiệp, làm tiền mặt để khỏi phải chu cấp ǵ cho mẹ con cậu cả. Thế là hai mẹ con cậu đă phải sống trong cảnh cô đơn, thiếu thốn. Nhưng đáng phục là ở chỗ, cho dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, hai mẹ con cậu vẫn trông cậy ở Chúa và sẵn sàng chia xẻ t́nh yêu Ngài đến với người xung quanh. Đến khi cậu bé lơn lớn, người mẹ bắt đầu tham gia vào nhóm thừa tác viên Thánh Thể. Cô t́nh nguyện đem Ḿnh Thánh Chúa đến cho những người bịnh không thể tham dự thánh lễ với cộng đoàn được.

Trong khi mẹ cậu đọc Phúc Âm và cho mọi người chịu Ḿnh Thánh Chúa ở pḥng lân cận, th́ cậu bé lại lẻn sang pḥng thăm ông Từ. Sau một thời gian dài, ông Từ đă thấy ḿnh quen dần với sự có mặt của cậu bé có cái gương mặt xanh xao và đôi mắt to đen ấy. Cậu chẳng nói chuyện bao giờ, chỉ nh́n ông một lát rồi đặt vào tay ông một quả bong bóng màu xanh, màu xanh của sự hy vọng.

Ngày tháng cứ thế trôi qua lặng lẽ. Rồi mùa đông đến, ông Từ lại không thấy cậu bé và người mẹ đâu cả. Người đem Ḿnh Thánh Chúa đến giờ đây lại là một người đàn bà đứng tuổi. Ông Từ chờ đợi một tuần, rồi đến hai tuần. Cuối cùng, v́ nhớ cậu bé quá nên ông đánh liều hỏi người thừa tác viên Thánh Thể mới:

- Xin lỗi bà, bà cho tôi hỏi. Người phụ nữ vẫn thường đem Ḿnh Thánh Chúa đến đây và cả con của cô ta nữa bây giờ ở đâu? Sao họ để cho bà đi giúp vậy?

Người đàn bà ôn tồn trả lời:

- Dạ thưa ông, mấy hôm nay con của cô ta trở bịnh tim, phải vào bịnh viện điều trị, hiện vẫn c̣n trong thời gian nguy hiểm. Bác sỹ nói có thể là phải mổ. Không biết cậu bé có sống nổi nữa không. Nếu nó chết, th́ không biết là mẹ nó sẽ ra sao.

Ông Từ nghe xong th́ lạnh tái cả người. Suốt mùa đông năm ấy, người ta thấy ông cứ co ro ra vào pḥng khách, mắt dơi về phía cánh cửa chính như chờ đợi một ai đó. Ḷng ông cứ bồn chồn lo lắng. Ông dường như là lo sợ sắp sửa lại mất đi một cái ǵ nữa rất quí giá trong đời. Cuối cùng v́ không thể chịu đựng được nữa, ông Từ đă quyết định theo một số người bịnh ở pḥng bên cạnh đến nhà thờ dự lễ Chủ Nhật và cầu nguyện cho cậu bé qua cơn hiểm nghèo.

Hôm đó lại là Chúa Nhật Lễ Lá. Khi chiếc xe van chở các ông bà cụ dừng lại ở cửa chính của nhà thờ, th́ ông Từ lại bắt đầu tần ngần, nửa muốn vào, nửa muốn không. Ông không giữ đạo đă lâu, nay trở lại nhà thờ nên có phần ngài ngại làm sao đó. Nếu không phải là để cầu nguyện cho cậu bé, có lẽ cho đến bây giờ ông vẫn chưa chịu đi nhà thờ đâu. Thấy ông Từ chần chừ chưa vô, anh tài xế lại không hiểu ư, tưởng là ông Từ cần giúp đẩy chiếc xe lăn, nên anh chạy lại gần bên, phụ một tay đẩy cho chiếc xe phóng nhanh qua cửa.

Vào được đến bên trong, ông Từ thấy ḷng ḿnh an tâm hơn. Nhà thờ hôm nay chật ních những người, có lẽ là v́ cộng đoàn đang bước vào tuần thánh. Ai nấy đều dự lễ sốt sắng. Riêng chỉ có ông Từ là xem lễ một cách bàng quang thôi. Ông bỏ lễ đă lâu, lại không rành mấy về nghi thức phụng vụ nên mọi thứ đều gây sự chú ư nơi ông.

Rồi đến thứ năm tuần thánh, thấy các pḥng lân cận mọi người náo nức đi dự thánh lễ, ông Từ cũng nối đuôi theo sau lên xe. Nhờ tham dự thánh lễ hôm đó mà ông Từ đă có dịp nghe lại đoạn Kinh Thánh kể việc Chúa Giêsu cúi xuống rửa chân cho các môn đệ yêu dấu của Ngài. Nhưng trớ trêu thay, liền ngay sau đó môn đệ của Ngài lại đáp trả bằng cách người th́ phản bội bán đứng Thầy, kẻ th́ chối bỏ, và tất cả đều chạy trốn, để Ngài cô đơn trong cơn nguy khó. Ông Từ thấy thấm thía điều này và trằn trọc măi suốt đêm hôm đó.

Qua đến ngày thứ sáu hôm sau, ông Từ lại thấy trong ḷng không yên, nên một lần nữa ông theo nhóm người bịnh đến nhà thờ. Hôm nay cộng đoàn đi Chặng Đàng Thánh Giá. Ông theo mọi người đi hết 14 chặng với một dáng vẻ trầm ngâm, suy tư. Càng đi, ông lại càng thấy Thiên Chúa mà trước kia ông xem là một Đấng xa lạ v́ không đồng cảm, giờ đây lại là một Đấng đầy ắp yêu thương và gần gũi. Ông nhận thấy Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa khi xuống thế làm người, đă nếm trải tất cả mọi thứ đau khổ ở đời. Từ nghèo nàn, cô đơn cho đến bị kết án , tù đày. Bị đánh đập và bị phỉ báng. Rồi cuối cùng, để hoàn tất công tŕnh cứu độ của Ngài, Con Thiên Chúa đă chịu chết tức tưởi đau thương trên Cây Thập Giá. Cái chết là cái mà con người ta vẫn hằng sợ hăi và lo lắng nhất th́ Ngài cũng chẳng khước từ nhận lănh. Ngài đă đi là đi cho đến cùng đích. Vậy th́ c̣n cái chua cay, đau đớn nào nữa ở đời mà Đức Giêsu Kitô đă không trải qua để chia xẻ với loại phàm nhân như ông nữa chứ?

Ông Từ suy gẫm đến chặng thứ 14 th́ không thể cầm ḷng được nữa, ông oà lên khóc rưng rức như một đứa trẻ thơ. Mọi người xung quanh hết nh́n ông, rồi lại nh́n nhau v́ chẳng hiểu ǵ.

Tối hôm đó ông Từ chần chừ nấn ná ở lại nhà thờ lâu lắm. Cuối cùng th́ ông quyết định đến xin phép cha sở cho xưng tội cách đặc biệt riêng. Cha sở thuận ư và ở lại giải tội cho ông đến khuya.

Sáng Chúa Nhật Phục Sinh, ông Từ thức dậy thật sớm để chuẩn bị tham dự thánh lễ với mọi người. Trước khi đi, ông Từ không quên nhờ cô y tá kéo tung bức màn che cửa sổ dày để cho những tia nắng ấm áp của buổi b́nh minh tràn vào, làm sáng rực cả căn pḥng mà trước kia vốn lạnh lẽo và tối như bưng của ông.

Rồi ông Từ dự lễ sốt sắng hôm đó. Suốt cả buổi lễ, đoạn Thánh Thư của Thánh Phaolô Tông Đồ cứ văng vẳng măi bên tai ông: “Anh em hăy vui lên trong Chúa v́ hôm nay anh em đă được tái sinh nhờ Máu và Nước của Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa Hằng Sống.”

Ông Từ xúc động quá thể. Đến khi rước lễ, ông run run bật khóc một lần nữa. Ḿnh Máu Thánh Chúa thấm nhập vào người ông. Đi đến đâu, Ḿnh Máu Thánh Chúa tỏa lan như một ḍng điện nóng, làm tan chảy những tảng băng đông cứng đă chiếm hữu ḷng ông từ bấy lâu nay...

Sau Thánh lễ mọi người hân hoan ra về, riêng có ông Từ là không thấy đâu. Cả đoàn xe phải chờ đợi ông măi. Ai nấy đều thấy sốt ruột, lo lắng. Cuối cùng th́ anh tài xế phải bỏ cả nhóm người mà đi t́m ông Từ. Sau một hồi lâu dạo quanh khu sân sau nhà thờ, anh mới thấy ông Từ một ḿnh đang gục đầu cầu nguyện trước ảnh Thánh Tâm Chúa Giêsu. Anh tài xế đánh thức ông Từ rồi đưa ông lên xe.

Về đến trung tâm, mọi người cho biết là hôm nay sẽ có những người trẻ ở nhà thờ đến hát giúp vui, mừng lễ Phục Sinh như năm ngoái. Ông Từ hớn hở đợi chờ. Rồi cả đoàn người bước vô. Ông cố nh́n mặt từng người một để t́m xem có cậu bé Việt không. Nhưng luống công vô ích. Cả đoàn người lần lượt bước vào hết mà ông Từ vẫn không thấy cậu bé đâu cả. Ông tiu nghỉu thất vọng, định bụng sẽ kéo xe lại một góc pḥng nghe nhạc. Nhưng bỗng có tiếng của một đứa trẻ vang lên:

- Ông!

Ông Từ giật ḿnh quay lại, nhận ra đó là cậu bé vẫn thường đến thăm ông khi trước. Thấy ông, Việt vụt khỏi tay mẹ, chạy ù đến bên âu ếm. Ông Từ mừng vui khôn xiết, dang rộng hai cánh tay ra ôm chầm lấy cậu bé. Hai ḍng nước mắt trào ra vui sướng. Vừa lúc có tiếng nhạc nổi lên. Ông Từ gật gù hát lên khe khẽ:

Nào ta hăy mừng vui!

Chúa chiến thắng tử thần rồi.

Ngài chiếu ánh sáng khắp địa cầu.

Alleluia!