| |
Sau bao nhiêu ngày
suy nghĩ,
cuối cùng tôi
cũng quyết
định đặt bút viết những ḍng này. Với ước mong những suy nghĩ,
những kinh
nghiệm trải qua mấy mươi
năm
có thể mang
đến vài lời khuyên giải cho những ai có hoàn cảnh tương
tự. Tôi không cho rằng cảnh đời của ḿnh mang tính cách đặc
biệt, ngược lại chắc không ít những người đàn
bà của quá
khứ, của hiện tại và tương
lai gặp phải.
Tôi nghĩ rằng
quan trọng nhất vẫn là nỗ lực của từng cá nhân.
Khi viết những
ḍng này, tôi cũng
mong có thể
thổ lộ ḷng ḿnh cho đứa con gái lớn của tôi, có hạnh phúc trong tầm
tay nhưng
chỉ nh́n chỗ
khác, và dường như
đang
lập lại một
phần đọan đường mà tôi đă
qua.
Sáng nay đi
lễ về, những
người công giáo không đông
hơn những
lễ Chúa nhật khác vào mỗi dịp có thánh lễ tiếng Việt tại đây.
Nhưng
sự có mặt của một số bạn hữu không công giáo đă
làm cho ḷng tôi
ấm cúng. Hôm nay là
lễ giỗ trăm
ngày, cầu cho mẹ chồng của tôi. Tôi thầm nghĩ
nếu việc này
xảy ra cách đây
vài năm
th́ ḷng tôi chắc
không được ấm cúng như
thế. Trong thánh lễ, tôi đă
để tâm cảm tạ
Thiên Chúa đă
thương
không cho tôi mang măi sự
ngu muội nhỏ nhen của một người đàn
bà, một người con dâu bất hiếu, một người vợ bất tín, một người
mẹ gây ra bất hạnh.
Chồng tôi mất đă
hơn
hai năm,
khi ấy tôi
vừa qua 50 tuổi, cái tuổi được cho là tri thiên mệnh. Anh hơn
tôi ba tuổi,
ra đi
đột ngột một
chiều tháng 11 sau một cơn
đau
tim. Tôi bị
hụt hẫng nhiều sau sự ra đi
đó,
t́nh thế tưởng chừng không cứu văn được Trong giây lát tôi đă
lấy một quyết
định: về lại Việt Nam sống với cha mẹ tôi. Tôi đem
ư định này
nói với một vài cô bạn, chỉ là bạn thường thôi, thật ra lúc ấy tôi
không có bạn thân. Dĩ
nhiên là không ai tán
đồng, bởi trong ba
đứa con tôi, ngoài cô con gái lớn nhất đă
lập gia đ́nh
và hiện đang
sinh sống tại
Việt Nam, th́ cậu con trai sắp học xong, c̣n đứa con gái út vẫn đang
học đại học,
đang
ở tại thành
phố này cùng tôi. Sau cùng tôi đem
chuyện hỏi ư
môt linh mục, vị này tuy không can, nhưng
đề nghị tôi
nên hoăn quyết định lại môt thời gian, và mời tôi đi
dự một khóa linh thao tại Hoa Kỳ. Tôi nhận lời, nhưng
không hứa hẹn
ngày. Gần một năm
sau, khi mọi
việc gia đ́nh
đă
ổn thoả, tôi
gặp lại vị linh mục này để lo thu xếp lên đường đi
dự linh thao. Theo lời khuyên của vị linh mục trên, tôi đă
chọn một khóa
kéo dài một tuần, tổ thức trong cơ
sở một nhà
ḍng miền núi.
Những ai đă
dự những khóa
tĩnh tâm
chắc có thể
hiểu hoặc tưởng tượng ra diễn tiến của tuần này như
thế nào.
Những giờ học hỏi, suy niệm, cầu nguyện, lắng nghe, thinh lặng, dùng
cơm, và tất
cả đă cho
tôi một thay
đổi lớn trong tâm hồn. Tôi đă
hiểu nhiều hơn
về niềm tin vào Thượng Đế, về con người, về đời sống, và
nhất là về tội lỗi. Những thu nhận này đă
giúp tôi can
đảm nh́n lại thẳng thắn toàn bộ con người của ḿnh, toàn bộ đời sống
của ḿnh. Điều
mà trước đây
tôi tránh chưa
bao giờ dám
làm, và đúng
hơn
là không biết
để mà làm. Tôi dùng chữ can đảm v́ đích
thực là tôi đă
phải khổ sở, đau
đớn trong tâm
trí để chấp nhận sự thật về bản thân. Nhưng
sau khoảng thời gian đau
khổ đó,
tôi t́m được
chính ḿnh. Có lẽ cuộc đời tôi bắt đầu thay đổi rơ nét từ lúc đó.
Bước ra khỏi cuộc
tĩnh tâm,
tôi đă
lập tức quay
trở về Đức, thay v́ ở lại dạo chơi
nước Mỹ như
đă
dự tính trước.
Quyết định trở lại nhà là một thôi thúc, một sự cần thiết như
không thể cản
nổi. Cô con gái ra phi trường đón
tôi về rồi
lại quay ra trường học ngay. Vừa bước vào nhà, tôi hối hả vào pḥng
riêng và lật lại các chồng sách báo của chồng trên bàn. Tất cả vẫn y
nguyên từ ngày anh mất. Tôi mở đọc một vài trang sách, phần nhiều là
sách t́m hiểu về con người, về thời sự xă hội và các tài liệu tôn giáo.
Sực nhớ có vài lần thấy chồng tôi mở tủ áo lấy ra hay cất vào một
quyển vở. Tôi quay sang tủ áo ṃ mẫm và t́m thấy một tập giấy dưới xấp
áo ấm cũ kĩ.
Mở ra trang đầu tiên, tôi đă
nhận ra ngay
những nét chữ của anh. Tập nhật kư được khởi viết vào ngày 15 tháng 8
năm 1986 tại
trại tị nạn Pulau Bidong, tức là hai tuần sau khi anh đặt chân lên đảo
cùng đứa con trai 12 tuổi và cậu em trai lúc đó
cũng
đă
lớn. Vừa đọc
tôi vừa ôn lại trong kư ức những lá thư
anh viết cho tôi vào thời gian đó.
Những lá thư
mà từ lâu tôi
đă xé
đốt v́ nghi
ngờ, v́ hờn giận. Nhật kư đă
ghi lại những đau
khổ, những khó khăn,
của người tị
nạn trong trại, một số những chi tiết cơ
cực thể xác và tinh thần, mà tôi không thể tưởng tượng nổi.
Lẽ dĩ
nhiên v́ tôi chưa hề
sống qua. Càng đọc, tôi lại càng tự thấy ḿnh như
môt người khờ
khạo, nếu không muốn nói là quá nông cạn. Trước đây,
tôi đă
hoàn toàn không hiểu
và từ chối t́m hiểu đời sống của những người tị nạn như
anh. Thực ra anh vốn ít kể chuyện về ḿnh, chỉ thỉnh thoảng nói
vài lời về đời sống cộng đồng trong trại tị nạn. Nhưng
tôi đă
luôn cho rằng
những ǵ anh kể chỉ toàn là thêu dệt, nói quá sự thật. Đôi
khi thấy trên
một số sách báo các câu chuyện về người tị nạn, tôi ít để ư đọc, và
nhiều khi đă
gán ngay cho
đó là những
bịa đặt thêm thắt. Tôi đă
từng rất bực
ḿnh khi đọc được ở đâu
đó
hai câu ca dao:
Đàn
ông nông cạn
giếng khơi
Đàn
bà sâu sắc
như cơi
đựng trầu.
Bây giờ th́ tôi
phải đành
ḷng thừa
nhận rằng hai câu đó
có rất nhiều
phần đúng,
ngay cả trong
xă hội ngày nay mặc dù ngày càng nhiều phụ nữ nắm những vai tṛ quan
trọng trong các bộ máy xă hội, kinh tế, chính trị.
Chồng tôi và con
trai, cùng với người em trai vượt biên chung chuyến may mắn đă
được Đức nhận
cho định cư
sau gần một
năm trong
trại. Kể từ
ngày biết sẽ sang Đức và cho đến ngày đến đất định cư,
những chuyện
trong tập nhật kí như
được viết
theo dạng khác: các suy tư
bắt đầu hướng
về quá khứ, về gia đ́nh,
vợ con c̣n ở Việt Nam, về khoảng thời gian cơ
cực trong
trại cải tạo. Tôi có cảm tưởng anh đang
muốn lấy lại
tinh thần, nghị lực trong quá khứ mà hướng đến tương
lai. Chắc tôi
đă nghĩ
đúng,
ngay khi đến
Đức anh bắt đầu vào việc hội nhập và chuẩn bị bảo lănh vợ con. Khoảng
thời gian của những năm
đầu trên đất
định cư chỉ
gồm vài ḍng trong tập nhật kí. Qua những người quen biết, tôi được rơ
hơn về
đời sống của hai cha con trong trời gian này: anh đă
vừa học tiếng Đức, vừa theo dơi t́nh trạng công ăn
việc làm. Với
sự trợ giúp của các người giúp đỡ tổ chức Caritas, đồng hương,
anh đă
sớm t́m được
một chân làm việc trong một xưởng cơ
khí. Anh lo cho
đứa con trai vào trung học, phần anh th́ ghi danh theo học đại học
ngoài giờ, cứ hai tháng anh gửi về Việt Nam cho mẹ con tôi một thùng
đồ để bán đi
mà sinh sống,
hai cha con như
thúc đẩy nhau mà vươn
lên. Tôi hiểu
là với mật độ sinh họat như
thế, anh
chẳng c̣n chút thời gian nào để viết hồi kư. Người em trai cũng
theo học đại học và đi
làm thêm ngoài giờ
để phụ với anh.
Trong thời gian đó
tại Việt Nam,
tôi và hai con gái vẫn ở nơi
cũ,
gần nhà cha
mẹ tôi. Tôi vẫn giữ các sinh hoạt y như
hồi chồng c̣n trong trại cải tạo. Rồi từ một năm
sau trở đi,
với những
thùng hàng đều đặn, chúng tôi đă
sống một cách
thoải mái, hơn
hẳn nhiều người chung quanh. Thời điểm
này, vài kiểu xe gắn máy chỉ mới được nhập lại từ Thái Lan vào Việt
Nam sau bao nhiêu năm
bị cấm cản.
Tôi mua ngay một chiếc và rất hănh diện trước mặt mọi người, đó
là một biểu
tượng của sự thành công của tôi. Có lần chính cha tôi đă
phải nhắc nhở. Ông bảo: "Tiền bạc ở đâu
cũng
phải đổi chác
bằng mồ hôi và nước mắt. Thằng Huấn không hái ra tiền bên Đức đâu."
Cha tôi hiếm
khi lên tiếng trong nhà. Nhưng
ông đă
nhắc tôi điều
ấy chắc hẳn v́ tôi đă
thực sự sống
khá bừa băi.
Lúc đầu tôi hay
tổ chức họp mặt bạn bè, thân cũng
như
không thân.
Đôi
khi có cả
công an phường khóm, dĩ
nhiên cũng
là dịp để lo
lót. Cũng
có vài người
đàn ông
theo đuổi
tôi. Mặc dù không thể đáp
lại, nhưng
những cuộc đeo
đuổi
dù bất thành cũng
vẫn cho tôi
cảm giác sung sướng v́ biết ḿnh c̣n đẹp, c̣n trẻ, c̣n đầy quyến rũ.
Thật ḷng, đă
có những lúc
tôi tiếc nuối v́ không thể đáp
trả những cuộc t́nh kia. Những lúc ấy, trong tôi là cả một
loạt nghi vấn: tôi tự hỏi ngày trước ḿnh đă
yêu thật chưa;
khi cùng nhau hứa
hẹn đời sống hôn nhân, nhất là trong buổi lễ ở nhà thờ, tôi có nghĩ
những ǵ ḿnh
tuyên hứa không. So sánh kỹ, chồng tôi chắc không thể tài giỏi hơn
những anh
chàng đẹp trai có địa vị đang
đeo
đuổi
tôi hôm nay. Đôi
khi tự xấu hổ
trước những suy nghĩ
đó,
tôi t́m cách bào chữa
cho suy nghĩ
của ḿnh: nào
là thời gian chiến tranh, chồng tôi và tôi ít biết nhau, cưới rồi xa
cách không gần nhau nhiều, nên sự cảm thông không có.
Nhưng
mọi việc dần
rồi cũng
thành nhàm chán, tôi quyết
đi vào
sinh hoạt
thanh niên xứ đạo, tập ca đoàn,
đàn
hát trong nhà thờ.
Cũng phải
nói rằng trước đó
tôi được may
mắn theo học trường mấy bà sơ
ḍng Đức Bà, nên các việc nấu ăn,
đàn
hát, thêu thùa
đều biết ít nhiều.
Tôi cũng
biết đọc và
nói tiếng Pháp khá lưu
loát. Trong hoàn cảnh nhà nước tỏ ra khó khăn
cho mọi sinh
hoạt tôn giáo, tất cả những khả năng
này cộng với
sự thoải mái tài chánh đă
làm cho tôi có tiếng
nói khá mạnh trong xứ đạo và trong xóm. Một khoảng thời gian sau,
dường như
ai ai cũng
biết đến tôi
như một
phụ nữ đảm đang,
rộng răi, hát
hay, đàn
giỏi, hoạt
động hăng
say. Một số
người cần vay mượn hay muốn giúp đỡ cũng
chạy đến cậy nhờ tôi hoặc mẹ tôi giới thiệu. Chúng tôi
rất vui khi được sống trong sự trọng vọng đó.
Ai cũng
tỏ vẻ yêu mến,
nể v́. Trong xóm hễ nhà nào có tiệc là chúng tôi đều được mời. Mẹ tôi
và tôi đều rất hănh diện được hưởng sự đối xử khá đặc biệt đó.
Mặt khác, cha mẹ tôi vốn là những người quen ăn
nói, kinh doanh, nên hầu
như tất
cả mọi xung đột với người khác đều do mẹ tôi đối chọi. Những xung khắc
mà tôi phải đối mặt nếu có, hầu như
đều đến từ phía cha hay các em của tôi. Và tôi cũng
thường thắng
cuộc v́ luôn có sự ủng hộ của mẹ. Trước mắt tôi chỉ là một bầu trời
huy hoàng, ai ai cũng
nể trọng tôi,
ngay cả trong nhà, v́ tôi luôn luôn nghĩ
và làm đúng,
tôi cho là như
thế.
Sau vài năm
định cư
tại Đức,
chồng tôi đủ khả năng
để đưa
gia đ́nh
sang đoàn
tụ. Tôi rất
vui mừng. Những ngày đầu tiên đến Đức là những ngày đầy bỡ ngỡ: gặp
lại chồng, gặp lại con, vui mừng khó tả. Nhưng
sự hụt hẫng
đến cũng rất
nhanh, tôi phải đi
học tiếng Đức, một thứ ngôn ngữ không mấy cuốn hút. Chúng
tôi sống trong một căn hộ với ba pḥng ngủ. Thằng con tôi phải ngủ
cùng pḥng với người em trai của chồng tôi. Đời sống ở đây
thật là buồn
chán, ra đường chẳng ai để ư đến ḿnh, nếu gặp hàng xóm th́ chỉ chào
nhẹ rồi ai lại đường ấy. V́ không biết lái xe, sáng nào tôi cũng
phải đưa
con đi
học khi th́ bằng xe đạp, lúc th́ bằng xe bus. Chiều đến th́
chồng tôi đón
cháu về.
Những sáng mùa đông
đầu tiên để lại trong tôi nhiều kư ức đáng
nhớ. Sau
nhiều lần trượt, gần bốn năm
sau tôi mới
từ bỏ ư định lấy bằng lái xe. Mỗi lần thất bại đều làm ḷng tự ái của
tôi bị tổn thương
nặng nề, tôi
rất xấu hổ mặc dù ai cũng
cho đó
là sự thường. Nhiều khi cảm thấy đau
khổ, chán nản
v́ không thể tiêu xài thoải mái như
khi c̣n ở Việt Nam, tôi nhớ đến những buổi ăn
uống khi c̣n
ở Việt Nam, khách khứa đầy nhà. Ai cũng
khen tôi giỏi điểm này, mừng tôi thông minh điểm
khác. Tôi nhớ những buổi lễ lớn trong nhà thờ, chúng tôi lúc nào cũng
có chỗ dành
riêng. Giọng nói, hát, đàn
tôi thường
xuất hiện trong máy vi âm. Và sau lễ lúc nào cũng
tôi cũng
nhận được
nhiều câu khen ngợi. Bây giờ ở bên cái xứ lạnh lẽo này, tôi cứ như
cái bóng. Cũng
may là chúng tôi
định cư
tại một thành
phố cũng
có khá nhiều
người Việt. Tuy ở rải rác nhưng
cũng
có những nơi
tụ họp, sinh hoạt chung, và cũng
có một cộng đoàn
Công Giáo Việt
Nam nho nhỏ. Chồng tôi sinh hoạt ở đó
từ khi qua Đức. Anh từng phụ trách việc tập hát cùng với một
số anh chị em khác. Trước đây
cũng
làm giáo lư viên nhưng
sau khi tôi sang th́ anh xin ngừng
để lo việc nhà.
Trong nhật kư,
hôm trước ngày tôi đến Đức, chồng tôi viết như
sau: Rồi
ngày mong đợi cũng
đến, từ nay
tôi mong chọn nơi
đây
là quê hương
thứ hai. Nơi
đây
chúng tôi sẽ
có thể yên tâm xây dựng một gia đ́nh
sau bao nhiêu năm
gián đoạn.
Chỉ tiếc rằng vẫn thiếu đứa con gái lớn đă
lập gia đ́nh
bên Việt Nam.
Vợ chồng nó đă
có quyết định
như thế
v́ c̣n bà mẹ chồng. Chồng nó là con một, bỏ đi
th́ ai lo cho mẹ.
Đó là một
quyết định đúng
mà tôi hoàn toàn
ủng hộ.
Tôi vốn sinh
trưởng ở Đà
Lạt cũng
là con gái
đầu ḷng, vào học trường của các nữ tu c̣n được gọi là Couvent des
Oiseaux. Cha tôi là một nhà buôn gỗ và các lâm sản chế biến. Ông
thường xuyên đi
lại giữa Sài G̣n và các tỉnh Tây Nguyên. Ông vốn quê ở Quảng
Ngăi, vào lập nghiệp tại Đà
Lạt vào cuối những năm
40 rồi gặp mẹ
tôi ở đó.
Mẹ tôi cũng
đă
từng theo học
trường các nữ tu Ḍng Đức Bà. Có lẽ v́ vậy sau này chị em tôi cũng
được gứi vào
học ở đó.
Bà trông coi cơ
sở chế biến
các sản phẩm mỹ nghệ ở Đà
Lạt do cha
tôi lập ra. Gia đ́nh
tôi thời ấy
thuộc vào loại khá giả. Có người giúp việc trong nhà. Chị em tôi bốn
người, có xe riêng đưa
rước đi
học nên chúng
tôi không phải ở nội trú.
Khi xong tú tài,
tôi vào học Văn
Khoa ở Sài
G̣n. Hai năm
sau tôi gặp anh và chúng tôi thành hôn một năm
sau đó.
Tôi c̣n nhớ
lần đầu tiên thấy anh tại vũ
trường, trong một bộ quân phục gọn gàng. Bề ngoài vui vẻ nhă
nhặn, có cái ǵ khác với những đồng bạn, khác với những anh chàng đang
theo đuổi
tôi lúc ấy. Anh đưa
tôi về nhà
tối hôm đó
và kể từ đó
chúng tôi thường
xuyên gặp nhau. Đám
cưới của
chúng tôi đă
làm cho không ít chàng trai
đau khổ. Thành hôn được vài tháng th́ chiến cuộc leo thang, và
anh được phái lên vùng Tây Nguyên. Anh đề nghị đưa
tôi theo nhưng
mẹ tôi chống
đối kịch liệt, ngược lại cha tôi ủng hộ. Phần tôi lúc đó
cũng
chẳng mấy vui khi phải rời Sài G̣n, nhưng
cũng
theo ư của
cha tôi. Tuy vậy chỉ hai tháng sau, tôi đ̣i
trở lại Sài
G̣n, nhờ có một số tiền mà anh đă
dành từ ngày
nhập ngũ,
cộng với số
tiền quà mà cha mẹ anh tặng dịp lễ cưới, tôi mua một căn
nhà cùng khu phố
với căn
nhà của cha
mẹ tôi. Căn
nhà không lớn,
nhưng có
mảnh vườn phía trước vuông vức có thể làm nơi
họp bạn dưới
bóng mấy cây xoài, ổi.
Đứa con gái đầu
ḷng ra đời cuối năm
1972, anh không có mặt ở nhà nhưng
hay gọi điện
hỏi thăm
Cha con gặp
nhau lần đầu khi cháu được gần một tháng. Từ đó
đến tháng 4
năm 1975,
chúng tôi cũng
chỉ gặp nhau
vài lần rải rác trong một năm
vào những dịp anh về phép hoặc công tác tại Sài G̣n.
Thời điểm
tôi trở về Sài G̣n cũng
là lúc cha mẹ
tôi quyết định dọn luôn vào căn
nhà ở Sài G̣n Chúng tôi ở cùng xóm nên rất thường xuyên qua lại.
Trong thời gian này tôi chỉ ra thăm
mẹ chồng duy
nhất một lần, lúc ấy chồng tôi đang
ngoài chiến
trường. Bà nội gặp cháu đích
tôn lần đầu khi cháu đă
hơn
một tuổi. Gia
đ́nh chồng
tôi sống tại Bảo Lộc. Chồng tôi là con cả, hơn
tôi ba tuổi,
có một cô em bằng tôi, và hai người em trai cách anh 6 và 10 tuổi. Lần
đầu tôi ra Bảo Lộc là ngay sau đám
cưới, chúng
tôi đă
ở lại đó
hơn
1 tuần.
Ngay sau biến cố
1975, chồng tôi ra tŕnh diện và cũng
như
bao nhiêu người bị đưa
đi
cải tạo măi
tận miền Trung. Lúc ấy đứa con thứ hai của chúng tôi vừa được năm
tháng. Trong ṿng 10 năm
chồng ở tù,
tôi cũng
đến thăm
mẹ chồng hai
lần. Phần bà tuy cũng
có chồng
trong tù, nhưng
thường viết
thư thăm
hỏi, động
viên mẹ con tôi, và cũng
về Sài G̣n
thăm chúng
tôi 3, 4 lần
ǵ đó.
Lần nào gặp
bà đều mang những trái cây của vườn nhà cho tôi.
Đầu năm
1980, bố
chồng tôi mất sau ba tháng được chính quyền thả về nhà trong t́nh
trạng kiệt sức v́ bệnh nặng Chồng c̣n trong tù, tôi cũng
viện cớ khó khăn
đi
lại, con cái
c̣n nhỏ, nên không ra chịu tang, mẹ tôi tuy không ủng hộ quyết định
này, nhưng
không phản
đối. Chúng tôi dấu, nhưng
khi biết
chuyện cha tôi giận mẹ con tôi cả tháng trời.
Lần cuối mẹ chồng
tôi vào Sài G̣n là vào lúc trước khi tôi rời Việt Nam độ một năm.
Lúc đó
đứa em trai
kế út của chồng tôi bị bịnh nặng, phải đưa
vào nhà thương
Chợ Rẫy. Bà ở trọ nhà tôi cả tháng, cố gắng chữa trị cho con
trai nhưng
rồi cũng
không qua. Bà có hỏi
mượn tôi chút tiền để lo việc đưa
về quê chôn cất, và sau đó
đă
hoàn lại rất
sớm số tiền này cho tôi. Cuộc trao đổi ngắn gọn lúc đó
cho tôi biết là bà đă
phải bán đi
một mảnh đất để lo mọi việc.
Sau này tôi biết
rơ hơn rằng
bà đă chỉ
một lần duy nhất nhận quà chồng tôi gửi về vào dịp Tết đầu tiên khi
anh định cư
tại Đức, bà đă
bán và gửi
hết vào ĺ x́ cho mẹ con tôi. Bà nhắn chồng tôi cố gắng lo cho tôi và
con, c̣n đứa em út đi
cùng th́ cần
phải phụ với anh cả. Thế nhưng
trong ṿng mấy năm
đó,
tôi đă
luôn nghi ngờ chồng tôi giấu tôi gửi tiền về cho mẹ. Bởi vậy khi
người em trai nằm viện, tôi chẳng mảy may giúp đỡ chỉ thăm
hỏi qua loa
cho có. Dĩ
nhiên việc
bán đất lúc ấy tôi cũng
không cho là thật.
Trong nhật kư
chồng tôi đă
có viết lại
những điều
này. Anh chỉ viết theo cảm nhận và quan sát, không hề biết chi tiết
của các câu chuyện, v́ tôi đương
nhiên muốn
giấu. Nhưng
ngoài tưởng
tượng của tôi chính là ngay cả bên chồng cũng
chẳng bao giờ
cho anh biết. Đúng
vậy, tôi từng
nghĩ rằng
bên chồng tôi thế nào cũng
nói nặng nói
nhẹ, bàn ra tán vào, và luôn cho rằng đó
là điều dĩ
nhiên phải xảy ra. Nhưng
ngạc nhiên
biết bao v́ sự thực th́ trái ngược hẳn, họ không những không kể lại mà
dường như
c̣n t́m cách bào chữa
và bỏ qua cho các hành động của tôi. Có lẽ họ nhận ra sự tự cao của
tôi sẽ là nguyên nhân dễ gây ra nhiều ngộ nhận, nên từng lời nói, từng
cử chỉ đối với tôi ít khi mang tính bàn luận. Nhưng
ngay cả khi họ có thái độ đó,
tôi lại đă
từng cho rằng
họ là những người ganh ghét tôi.
Về phần chồng,
tôi đă từng
cho rằng anh không đủ tế nhị để thấy các chuyện đó,
nhưng
những ǵ anh viết trong nhật kư th́ đă
cho tôi thấy
khía cạnh hoàn toàn khác của anh. Anh đă
thấy hết, cảm nhận rất chính xác những ǵ đă
và đang
xảy ra, nhưng
vẫn giữ im
lặng. Thực ra không phải là anh hoàn toàn im lặng, nếu không th́ chúng
tôi đă chẳng
bao giờ có xung đột. Anh đă
sớm hiểu rằng
tôi là một người mang đầy tự ái, và v́ vậy những lời nói thật t́nh xây
dựng đều bị xem là những xúc phạm nặng nề. Và v́ vậy anh đă
chọn im lặng như
một phương
án làm cho tôi suy nghĩ,
mặc dù anh
biết sự im lặng đó
sẽ cho tôi
tưởng rằng ḿnh có suy nghĩ
đúng,
rằng ḷng tự ái của tôi sẽ làm cho tôi có thể coi thường anh hơn
khi anh im lặng.
Nhưng anh
luôn mong đợi
một ngày tôi sẽ đủ can đảm để đối diện với bản thân, anh viết: khi
sự tự ái không c̣n, con người không c̣n sợ xấu hổ với bản thân, lúc đó
chỉ ḿnh ta
đối diện với ta, không sợ ai chê ta, không màng ai yêu ta, chỉ e rằng
ta không đủ can đảm đón
lấy cái đau
khổ khi nhận
ra chân tướng ḿnh?
Một đoạn
khác (TT là Thu Tâm, tên tôi):
TT mang một
tâm trạng của một người tài giỏi, sống trong một thế giới đầy lời ngợi
khen, thật cũng
có nhưng
giả dối th́
nhiều hơn
(thế gian là
thế). TT sẽ rất đau
khổ nếu ngày
nào những lời ngợi khen đó
không c̣n. Tôi chắc ngày đó
sẽ đến mau
trong bối cảnh mới, trong xă hội Đức mọi người ai cũng
như
ai. Chuẩn bị
trong tâm hồn nhưng
tôi vẫn lo âu. Ngày trước, khi lập gia đ́nh,
TT đă
không muốn về
quê thăm
gia đ́nh
chồng ở quê.
TT vốn dân thành phố và quen lối sinh hoạt ồn ào. C̣n tôi, sinh trưởng
ở quê, đă
thầm yêu
thích cảnh xanh tươi
nhẹ nhơm của
đồng chè, nương
rẫy. Tuy sau
này lên Sài G̣n vào Đại học mấy năm,
tôi cũng
chưa
thích đời
sống ở đây.
Vợ chồng một
phần v́ hoàn cảnh, một phần v́ suy nghĩ
của vợ, nên
chúng tôi hiếm khi thăm
mẹ. Mặt khác,
thái độ của TT với mẹ tôi làm tôi lo nghĩ,
nhưng
may quá, mẹ đă
nói riêng với
tôi: ‘Con nhớ từ nay chỉ lo lắng cho gia đ́nh
của con mà
thôi. Tất cả những ǵ có lợi cho gia đ́nh
con th́ đều đáng
làm. Phần bố
mẹ và các em đừng lo lắng chi cả. Con cũng
biết các sinh
hoạt quá khứ của bố mẹ rồi. Các em con cũng
vậy rồi cũng
sẽ tự lập.’
Bà đă
đọc được các
lo âu của gă đàn
ông trẻ là
tôi lúc ấy. Sau này những ǵ bà viết trong các lá thư
cho tôi cũng
vẫn theo
chiều hướng ấy.
Trong một đoạn
khác, anh viết:
Có những điều
con người không thể làm được, tôi muốn thay đổi cách nh́n của TT. Nhưng
bao nhiêu lần
thử dù là bằng lời nói, dù là qua bạn bè, dù là trong việc làm, đều
thất bại hết. Cuối cùng th́ lời khuyên của người bạn tù (cha H.) đặc
biệt vẫn đúng.
Hồi c̣n trong
trại tù cải tạo, trong một lần bị phạt ngồi dưới mưa
cùng vài anh em v́ tội che giấu một anh bạn đă
có ư trốn
trại. Tôi thoát ra một câu than thở về sự đời. Một tên quản giáo nghe
thấy tức giận đem
tôi vào pḥng giam chung với một linh mục. Ở trong đó
ngày ngày tôi
đă
có dịp tâm sự
và cha H. đă
cho tôi thấy
rơ sự hèn yếu, giới hạn của con người. Tôi nhận ra rằng muốn TT thay
đổi tôi sẽ chỉ có thể tạo ra điều
kiện thuận lợi để TT tự nhận thức, và việc khởi đầu chính là phải giữ
im lặng. Im lặng sẽ đưa
ta từ từ về
với chính ḿnh.
Trở lại những
ngày đầu tiên khi chồng ở tù, tôi lo lắng đủ điều,
cho chồng th́ ít và cho ḿnh th́ nhiều, nhưng
nhờ có cha mẹ gần bên, và nhất là nhờ sự khôn ngoan từng trải
của cha tôi, chúng tôi đă
tránh được biết bao phiền toái đến từ phía chính quyền địa phương.
Một bà mẹ trẻ
mới 25 tuổi vắng chồng, chắc chắn lúc đó
cũng
là đối tượng ngắm nghé của nhiều người. Từ lâu tôi vốn biết
ḿnh có một nhan sắc không tệ. Tôi hùn vốn với mẹ và một cô em gái mở
tiệm bán tạp hóa nhỏ, nhưng
phía sau là
để mua bán thực phẩm như
gạo đường,
nhu yếu phẩm mà thời đó
nhà nước độc
quyền phân phối. Tôi chỉ đi
thăm
nuôi chồng một lần duy nhất năm
1982, khi anh
được chuyển vào miền
Nam . Năm
1984 anh được
thả về, từ đó
chúng tôi mới
thực sự ở gần nhau cho đến ngày anh vượt biên. Trong ṿng hơn
một năm
đó,
anh đă xoay
xở t́m đủ cách làm ăn:
nào là đi
dạy kèm, đi
phụ nấu khí đá.
Nhưng
từ khi anh
trớ về, chúng tôi gặp thật nhiều rắc rối. Khởi đầu là từ chính quyền,
công an địa phương,
rồi đến một
số người trước đây
theo đuổi
tôi. Chồng tôi quyết định đưa
cả nhà vượt
biên. Trước sức cản của mẹ, tôi không chịu theo. Viện lẽ là lúc ấy tôi
đang mang
thai được 3
tháng. Thế là chúng tôi quyết định để chồng tôi và đứa con trai lên
tàu, cùng đi
là em trai của
chồng tôi. Sau này theo lời kể, chuyến đi
gặp khá nhiều
rắc rối nhưng
không bị cướp biển. Mọi người trên tàu đă
được vớt
trong t́nh trạng đói
khát gần kiệt
sức, nhưng
tính mạng đều
được an toàn. Tôi nhận được lá thư
đầu tiên của chồng 4 tháng sau ngày anh ra đi
Tám tháng sau anh
định cư
tại Đức.
Thùng quà đầu tiên mà tôi nhận được vào khoảng 3 tháng sau ngày anh
đến quốc gia này.
Trở lại thời điểm
mới đoàn tụ
tại Đức, sự hiện diện của người em trai của chồng trong nhà làm tôi
khó chịu. Trước đây
khi c̣n ở
Việt Nam tôi hiếm khi gặp gia đ́nh
chồng. Nay lại chung nhà th́ thật sự không được thoải mái. Cũng
may chú em này cũng ít khi
ở nhà, thường
chú về đến vào lúc gần 11 giờ đêm,
nói chuyện
chút ít rồi vào bàn học cho đến khuya mới ngủ. Sáng sớm th́ đă
dậy sớm thu xếp nhẹ nhàng rời khỏi nhà. Cứ mỗi đầu tháng,
tôi lại thấy chồng đưa
lại cho tôi một số tiền mà anh nói là của chú em đóng
góp. Sau vài lần
như vậy,
tôi hỏi anh chú ấy làm ǵ mà có tiền, v́ tôi biết chú c̣n đang
đi
học. Chồng tôi chỉ cho biết là chú có đi
dạy kèm thêm.
Sau này qua vài người quen th́ tôi được biết là sáng sớm th́ chú đi
phụ giúp
khuân vác ở một chợ phân phối đồ tươi,
cho đền
khoảng 8 giờ sáng th́ đến trường. Ở lại trường cả ngày, đến tối th́
làm phục vụ trong một quán ăn
Việt Nam. Chú ăn
tối luôn tại
đó và
đêm
nào cũng
được người
làm chung cho quá giang xe về nhà. Thỉnh thoảng cũng
dạy kèm thêm cho một số con em người Việt.
Thái độ của tôi
ngày càng lộ rơ nên chú em chồng cũng
dần dần ít về nhà, viện lẽ phải ở lại học chung với bạn. Sau
cùng chú dọn ra luôn khi vừa ra trường và được nhận vào làm trong một
nhà thương.
Ngày đó,
chồng tôi có
dặn em hăy cố lo cho mẹ và chị c̣n ở lại quê nhà, ít nhất là cho đến
khi nào có gia đ́nh.
Và cũng
từ đó
tôi không c̣n thấy
chồng đưa
lại số tiền
hàng tháng của em. Tuy chỉ bằng một phần tư
lương
của chồng, số tiền này đă
cho phép tôi thoải
mái trong việc tiêu dùng. Nay tôi mới thấy thực sự phải để ư chi tiêu.
Từ khi có trí khôn, chưa
bao giờ tôi
phải rơi
vào cảnh này.
Muốn tiêu xài ǵ th́ rất dễ dàng làm ngay. Nhà tôi ngày xưa
có bà vú nuôi, lo luôn việc
ăn uống
giặt giũ,
lau dọn. Bà
lo cho mẹ con tôi cho đến ngày tôi đi
th́ mẹ tôi đưa
về cùng con
cháu bà vẫn c̣n ở Đà
Lạt. Bây giờ
sang đây
làm ǵ cũng
phải tự lo
liệu, sau khi bày ra làm các món ăn
đặc biệt th́ phải rửa chén bếp mệt quá. Tôi đâm
ra khó chịu
và luôn miệng cằn nhằn, nuối tiếc cuộc sống xưa
kia. Phải chi chọn anh chàng nọ giàu có hơn,
thế giá hơn,
phải chi đừng
sang đây,
phải chi và
phải chi ...
Nhiều khi gây với
chồng, tôi đă
nói ra những
lời cay độc đó.
Những khi ấy, anh thường lặng im không hé miệng. Tôi được
dịp càng làm dữ hơn,
nào là khi anh cưới
tôi, số tiền chi trả nhà phần lớn là nhờ tiền riêng của tôi và tiền
quà của bè bạn, thân nhân, cùng với sự hỗ trợ của cha mẹ tôi. Phần anh
và gia đ́nh
bỏ ra chẳng
được bao nhiêu. Có lúc không kiêng nể, tôi lôi cả gia đ́nh
anh ra mà mắng,
cho rằng anh đă
phải lo lắng
cho đứa em trai, đă
bí mật gửi
tiền về cho mẹ và em gái. Đến đó,
chắc anh đă
d |