ĐH 2004.02&03 | Becoming an Apostolic Body

 

Trang chính Bao DH 2004 2004-02
.

Phượng Nở

Têrêsa Tuyết Tạ

 
 

Hoa phượng nở rực rỡ vào mùa hè tại Barry University ở Florida. Nh́n phượng đỏ khoe màu sắc tôi nhớ lại những kỉ niệm vui buồn với những h́nh ảnh lên đường vào hè xưa ấy. Khoảng năm 1972 đến 1976 có những lần tôi đă cùng đồng hành với cha Elizaldé Thành và bè bạn thuộc nhiều phân khoa cũng như tôn giáo khác nhau. Chúng tôi đă cùng chung vui trong bữa ăn chay do ni cô nhà chùa khoản đăi ở B́nh Dương.  Chúng tôi đă cùng ăn bữa cơm với canh khoai lang do các cha ḍng khổ tu tại Đơn Dương ở Đà Lạt khoản đăi. Đă có những lúc chúng tôi cắt tóc, chơi đùa với các em nhỏ ở miền quê. Rồi những khi xót xa đứng bên giường các anh thương binh tại bệnh viện. Chúng tôi cũng đă buồn đau và hối tiếc về sự ra đi của Thủy anh bạn Cao Đài đẹp trai và tuấn tú học trường kỹ thuật Phú Thọ.  Sau mùa thi cử nhóm sinh viên chúng tôi thường đến Mai Thôn ở Sai-G̣n chơi.  Có lần tôi và ba bạn khác ngồi chung trong một con thuyền nhỏ bơi trên ḍng sông nơi đó. Hôm ấy Thủy rời thuyền bơi qua bụi dừa nước để bẻ dừa và hôm đó cũng là lần cuối Thủy c̣n cười nói với chúng tôi. Thủy đă ra đi v́ vọp bẻ cuốn anh theo gịng nước ngầm sâu dưới sông.   Nhớ lại những lần chúng tôi vác cuốc, xẻng, thuốc, quần aó, sữa bột, và cả với cây đàn guitar mộc mạc để lên đường giúp đồng bào chạy loạn từ miền Trung vào Sài-G̣n. Chúng tôi đào mương, dựng lều, phát sữa, thuốc, quần áo, thăm hỏi và chăm lo cho tất cả. Vào buổi trưa hè đó nhóm chúng tôi đến dựa lưng dưới gốc cây “t́nh yêu” để ăn khúc bánh ḿ với nước lạnh. Ăn xong thấy khoẻ khoắn rồi chúng tôi đàn ca. Toại ôm đàn dạo và chúng tôi bắt đầu diễn tả ḷng ước ao của ḿnh khi đồng ca bản nhạc: “Tôi muốn mọi người biết thương nhau, không oán ghét, không gây hận sầu. Tôi muốn đời hết nghĩa thương đau, tôi muốn khóc thương đời điêu tàn. Tôi muốn cười vào những khoe khoang, tôi muốn sống như loài hoa hiền. Tôi muốn thấy t́nh yêu ban đầu.”  Đă bao năm qua cho tới gần cuối tháng bảy năm nay tại Barry University này tôi mới lại có dịp dạo bước dưới bóng cây phượng vĩ trong bầu trời trong sáng.  Ánh trời chiếu dọi trên màu đỏ phượng nở làm tôi có cảm tưởng đang bước đi trên quê ḿnh. Tôi nghe như “phượng rơi trong ḷng tôi” cho tôi có dịp ôn lại những ước mơ và nh́n lại “t́nh yêu ban đầu”. Ánh sáng đă nối nhịp quá khứ và đưa tôi tới hiện tại nơi đây.

Tại Barry University vào một buổi sớm mai khi cả ba chúng tôi gặp nhau ở bậc thềm của Weber Hall nơi mọi người đă nghỉ qua đêm. Cha già Kidwell lên tiếng yêu cầu chúng tôi cùng đi với cha qua pḥng họp. Dưới bóng cây phượng vĩ vợ chồng tôi chậm răi bước hai bên cha già.  Tôi thấy bồi hồi và thương cảm khi nghe cha nói về cái đầu gối của cha đang chờ ngày giải phẫu để thay đầu gối khác!  Cha thật vui với tinh thần hăng hái thật đơn sơ và cởi mở. Ngài cố gắng hết ḿnh cất những bước chậm chạp từ pḥng ngủ đến pḥng họp hay nguyện đường.  Khi nào phải bước lên xuống nhiều bậc thềm cha liền hỏi thăm người làm vườn để t́m ông Pedro. Ông Pedro lái chiếc xe nhỏ chạy trong khu đại học. Ông tỏ vẻ rất vui thích khi cha xin số phone và nhờ ông giúp đưa cha đến nguyện đường hay nơi họp khi cha cần. Cha tỏ vẻ mừng vui lẫn hớn hở nói cười như chim ca.  Sau hơn 20 năm cho măi đến hôm nay chúng tôi mới gặp lại nhau kể từ khi chúng tôi gặp nhau ở USNCLC Assembly ở WA D.C. năm 1983, hay tại Đại Hội Đồng Hành lần thứ nhất 1984, và USNCLC Assembly ở Cleveland ở Ohio năm 1985. Cả ba chúng tôi đều nhận ra nhau thật dễ dàng.  Với tấm thân ǵa mỏng manh nhưng tinh thần cha rất trẻ. Khi đến gần nhà nguyện cha chia sẻ với tôi: “What do you think I want to sing in the mass after communion?” Dù tôi chưa hiểu lí do tại sao cha muốn hát tôi cũng cứ về hùa lên tiếng đáp: “Why not, father? You just need to tell them in advance and see what they say about it.”  Tôi rời cha nơi nguyện đường để đi họp. Khi họp xong tôi trở lại nhà nguyện cho thánh lễ chiều. Tôi để ư nghe ngóng xem cha có thật sự sẽ hát không. Thế rồi lúc vào thánh lễ có Đức Giám Mục Augustine Roman với cha William Kidwell, Victor Hernandez, và Kenneth Buddendorff cùng đồng tế. Khi hoàn tất bài ca sau rước lễ cha Kidwell từ từ bước tới micro chia sẻ vài lời rồi cha hát.  Cha đă hát để tỏ bày t́nh thân thương ḷng qúi mến với lời chúc mừng của ḿnh đến đức giám mục.  Tiếng hát của cha khỏe trẻ như nụ cười tươi tốt của ngài. Lúc đó tôi mới hiểu mục đích cha muốn hát! Tôi thầm tạ ơn Chúa cho chúng tôi có dịp gặp lại cha Kidwell. Tôi được nh́n thấy và được hưởng niềm vui của cha dù cha đă già và sức đă yếu !

Khi gặp cha Kidwell th́ chúng tôi cũng chia sẻ với ngài về cha già thứ hai là cha Dave Fitch. Ngài cũng đă có lần đến tham dự với Đại Hội Đồng Hành.  Cha đang hưu dưỡng tại nhà tỉnh ḍng của Ḍng Tên ở Los Gatos ở CA. Chúng tôi đă đưa một đức cha từ Việt Nam qua cùng cha phụ tá của ngài đến tham quan nơi nhà tỉnh ḍng Tên này trước khi lên đường qua Florida.  Tiện cùng dịp tôi đă xin hẹn để gặp cha Dave Fitch. Cha Dave Fitch có tấm thân c̣m cơi yếu hơn cha Kidwell thế nhưng đôi mắt và giọng ngài nói thật tinh anh yêu đời và vui vẻ. Ngài bộc lộ niềm vui khi chúng tôi chia sẻ về chuyện sửa soạn lên đường đến Miami, Fl. Qua những tháng năm thăng trầm của Đồng Hành và USCLC qua nhiều dịp chia sẻ chúng tôi cảm thông và hiểu nhau qua ánh mắt và nụ cười hơn là lời nói. Tôi thấy hạnh phúc khi được gặp những người cha hiền lành. Người cha với những gương sáng trong tinh thần phục vụ. Tinh thần phục vụ của ngài như một người cha trộn với hiền từ mềm dẻo của người mẹ. Qua nhiều năm học nơi ngài tôi chẳng nhớ ǵ nhiều về những lời cha chỉ dạy.  Nhưng tôi nhớ rất rơ và không bao giờ quên khi tận mắt thấy cha ǵa nói ít và ngài thường phục vụ đàn con với cái sách tay hay cái cặp da cũ để mang theo những gói chips, cookies... Tôi học tinh thần phục vụ của cha khi tôi thấy những b́nh nước sôi hay b́nh café và nước ngọt đă sẵn sàng mỗi lần chúng tôi bước vào pḥng họp. Có khi cha mang cả máy cassette và tapes để ghi lại những báo cáo và tâm t́nh chia sẻ của mọi người.  Cha đă gửi cho chúng tôi băng khi chúng tôi vắng mặt! Tôi nhớ tới những cú điện thoại của cha nhắc chúng tôi đi họp. Tiếng nói của cha có sức mạnh giúp chúng tôi vượt qua mọi ngăn trở do chính ḿnh tạo nên!  Tôi thấy gương sống và yêu thương thật đẹp và rất sống động nơi cha. Khi nh́n lại tôi thấy ḿnh c̣n lẽo đẽo và lết bết theo bước ngài. Cha Dave Fitch đă có liên hệ gốc rễ rất xâu xa với CLC hay Hiệp Hội Thánh Mẫu khi xưa. Năm nay vào tháng bảy này chúng tôi rất mừng được gặp lại hai cha khả kính và đáng mến. Nguyện cầu xin Chúa luôn măi là hạnh phúc và niềm hoan lạc của hai cha.

Ngoài ra th́ cũng đă hơn 20 năm qua chúng tôi mới lại gặp cô Lois Campbell là chủ tịch USCLC. Cả gia đ́nh chúng tôi đă gặp cô Lois lần đầu vào năm 1983 trong USCLC Assembly dạo ấy cháu Thiên Anh mới ra đời được bảy tháng rồi vào năm 1984 và năm 1985 cháu Antony bắt đầu đến dự US-CLC Assembly khi được bốn tháng. Bây giờ cả hai đang là những thanh niên 21 và 19 tuổi. Chúng tôi dẫn hai cháu đi Miami để “come and see” và hi vọng chúng góp nhặt được chút kinh nghiệm góp thêm những ǵ chúng đang hướng dẫn và chia sẻ với lớp trẻ tại cộng đoàn địa phương.  Nh́n cô Lois bận rộn mà thấy thương và chúng tôi chỉ có thể chào mừng nhau trong ṿng tay thân mật! Không biết cô Lois có c̣n nhớ khi xưa  trong Đại Hội Đồng Hành 84 đă có khi anh Cường đă công khai khen cô: “You are so beautifull” trước mặt mọi người làm mặt cô đổi màu từ trắng sang đỏ. V́ đă gặp Đồng Hành và đă đi qua một quăng đường với nhau cô Lois có lẽ cũng hiểu và chia sẻ với Liêm về cái “sa mạc” mà Đồng Hành cần thoát ra! Tuy chẳng có dịp và giờ để tâm t́nh riêng thế nhưng chúng tôi đă trao cho nhau sự quan tâm và niềm vui hội ngô.  C̣n bà Barbara Belldola tỏ ra cảm động khi gặp lại anh Cường lúc trao đổi tâm t́nh kể từ lần gặp cuối vào năm1990 ở Guadalajara tại Mexico. Vào năm đó bà và nhóm đại diện vùng Bắc Mỹ và Canada đă nhường hết thời giờ hạn hẹp cho anh Cường là đại diện Việt Nam tỏ lời cám ơn cha Bề Trên Cả Peter-Hans Kolvenbach và USCLC về t́nh thương yêu của cha và USCLC đă dành cho Đồng Hành VN.  Anh cũng tỏ lời tuân phục xin vâng  khi cha bề trên gọi cha Thành về làm phụ tá cho CLC Thế Giới tại Rome. Anh đă tŕnh bày nhu cầu xin giúp giáo hội VN và nhu cầu huấn luyện cho Đồng Hành. Cha đă lắng nghe với trọn ḷng thương mến. Năm nay ở Miami tại USCLC Assembly chúng tôi cũng gặp lại các bạn đại diện USCLC của Vùng Bắc Cali.  Đặc biệt ông Gary Miskimon là cựu quân nhân đă có lần đến phục vụ tại Việt Nam và ông đă lên tiếng hết ḷng trợ đỡ Đồng Hành trong những buổi họp của EXco USCLC.  Ông chia sẻ cho chúng tôi biết ông thật xúc động rơi lệ khiến ông quên cả chụp h́nh lúc thánh lễ. Với cha John LeVecke là người chúng tôi mới gặp ba bốn lần trong năm tháng qua. Thấy cha thật vui! Tôi thấy tội nghiệp cha chưa quen với thời tiết ở Miami nơi xứ nóng nên mặt và áo cha thường ướt bởi mồ hôi. Chúng tôi gặp và chào ôm nhau thân t́nh nhưng rồi tôi phải vội lau mặt ḿnh v́ mặt cha ướt nhẹp! Cha tự nhiên, vui vẻ bộc lộ với chúng tôi: “I am very happy and excited.” Tôi cũng không ṭ ṃ hỏi xem cha vui và hứng thú về chuyện ǵ! Tôi tự nghĩ cha có niềm vui là tốt rồi! Chúng tôi cám ơn Chúa v́ cha John thật là món quà Chúa ban cho CLC.  Cha có tài năng riêng và mới mẻ lại đặc biệt có khiếu về media.

Tôi ngạc nhiên nh́n cha John LeVecke trong trang phục áo chùng thâm với mũ thời xưa mà các vị thừa sai đă mặc trong buổi cầu nguyện sáng. Cha đứng chờ với vẻ nghiêm túc khác thường.  Cha tỏ vẻ serious thật nên tôi chẳng dám phá ngài! Tôi lặng lẽ ngồi chờ đợi xem chuyện ǵ xảy đến! Khi nghe tiếng sáo và nhạc của bối cảnh trong phim “Mission” bắt đầu là lúc tôi nghe nhịp tim ḿnh chuyển theo. Tim tôi chuyển như cơn sóng dâng lên cuộn theo tiếng sáo vốn đă gây nhiều ảnh hưởng trong tâm tư ḿnh. Thành thật mà nói ảnh hưởng này đă đến kể từ khi cha Tước đem cho cả nhà mấy vé miễn phí để đi xem phim Mission vào năm 1986 ở Beaverton của tiểu bang OR .Ư nghĩa của hoạt cảnh mà cha John và cha Trí cùng mấy người đại diện tŕnh bày đă khơi dậy niềm ước ao sâu xa đă tiềm ẩn trong nơi sâu thẳm nhất của ḷng tôi. Nơi tôi nghe có tiếng gọi như mầu nhiệm nhập thể vào thế giới này. Nơi tôi đă đón nhận một hạt giống đă được gieo vào từ thuở hoang sơ nào đó.  Hạt giống đó trong tôi muốn nảy mầm vươn lên! Cái bồi hồi khi nh́n cha John LeVecke và cha Trí cùng các người đại diện cho những chi thể khác nhau trong một thân thể mầu nhiệm của Đức Kitô đă xấp ḿnh tiếp nhận lời mời gọi của Đấng Tối Cao! Tôi không khỏi cảm động nhớ lại h́nh ảnh cuối trong phim Mission này. H́nh ảnh một em nhỏ trần trụi v́ sống sót sau cuộc chiến và em đă đi t́m vớt lên được chiếc violon nơi gịng nước. Chiếc violon của vị linh mục đă dạo và đă dạy các em cất lời thờ phượng và ca tụng Đấng Tối Cao. Ngài đă dẫn dắt đàn chiên của ḿnh hướng nh́n về Phép Thánh Thể. Đàn chiên đă bước theo ngài đi giữa khói lửa và súng đạn với mũi tên. Ngài đă gục ngă và chết khi hai tay đang nâng cao Ḿnh Thánh Chúa ngay giữa cuộc chiến của quyền lợi với danh vọng cùng hận thù và ghen ghét. C̣n h́nh ảnh nào cao quí hơn!

Tôi viết sao cho hết về thật nhiều khuôn mặt mới và cũ! Tôi không chỉ nhớ thật nhiều bạn đồng hành mà c̣n nhớ cả những buồng cau, bụi chuối, cụm dừa, con thạch sùng cùng đàn kiến bống. Tôi nhớ đến bài ca tôi hay hát thuở học tṛ nhắc tới mùa phượng nở “Hoa phượng rơi đón mùa thu tới. Màu lưu luyến, nhớ qúa thu ơi! Ngàn phượng rơi bay vương tóc tôi, xác tươi, màu pháo vui tiễn em chiều năm ấy. Thu lại sang sắc hồng tơ lối.”  Hè qua rồi thu sang và phượng nở rồi phượng tàn rồi phượng rơi báo hiệu thu tới! B́nh thường như những cuộc họp rồi tan.  Bây giờ hè đang qua đám học tṛ bắt đầu đi mua sắm quần áo và sách vở chờ ngày tựu trường trở lại. Khi thu sang rồi Đông lại đến đợi Xuân trở lại với hội hè và mừng lễ Tết sau mùa chay rồi Phục Sinh.

Ngày xưa và hôm nay người Việt ta chưng mai vàng đón xuân và mừng lễ hội. Trong đời sống Kitô hữu có một biến cố trọng đại mà hàng năm người Do Thái vẫn cử hành là mừng lễ Vượt Qua. Họ cử hành trọng thể để nghiền ngẫm và nhớ lại một đêm rất khác với mọi đêm, một ngày thật khác với mọi ngày. Cử hành lễ với thịt chiên đă sát tế vào lúc xế chiều để tưởng nhớ đến Con Chiên Vượt Qua cùng vết máu bôi lên khung cửa và ăn bánh không men với rau đắng. Họ nhớ lại ngày tổ tiên và cha ông họ phải vội vă lên đường ra khỏi Ai Cập để khỏi cảnh nô lệ. Đồng Hành cũng  mừng lễ Vượt Qua với dấu chỉ đón mừng quà “tự do của người con Thiên Chúa” Ngài đă dẫn ta qua nhiều sa mạc để ta biết đặt niền tin nơi chính Ngài. Đó là lễ Vượt Qua mừng Đức Chúa là Đấng đă giải thoát chúng ta vượt qua bao nỗi sợ để chúng ta tập yêu thương và tin tưởng nơi Ngài.  Để chúng ta nhận ra cũng chính đêm hôm đó Ngài đă nộp ḿnh hiến tế chính Ngài trong Bí Tích Thánh Thể vào bữa tiệc ly. Để chúng ta nhận biết ḿnh được cứu thoát và ca mừng như ngôn sứ Miriam và bạn hữu đă nhảy múa ca mừng: “Hăy hát mừng Đức Chúa, Đấng cao cả oai hùng, kỵ binh cùng chiến mă, Người xô xuống dại dương.” (Xh16,20-21). Nhờ đó chúng ta bước đi theo tiếng gọi như được diễn tả qua tâm t́nh “ Ngài Đă Sống Lại” của cha Thomas Merton, một tu sĩ nổi danh ḍng Trapist đă viết:

 

Người Kitô hữu
phải có can đảm
để theo Đức Kitô.
Người Kito hữu
là người sống lại trong Đức Kitô
phải dám
giống như Đức Kitô
phải sống theo lương tâm
ngay cả trong trường hợp khác thường.
Người ấy khi cần
vẫn bất đồng ư với khối đông
và ra quyết định
mà người ấy biết là
hợp với Phúc Âm
ngay cả khi những người khác
không hiểu
tại sao lại làm như thế .

(phỏng dịch từ: He Is Risen, P.22, Thomas Merton)